Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì? Tìm hiểu Extra surplus value?

Giá trị thặng dư siêu ngạch là một thuật ngữ trong kinh tế học và triết học là mục tiêu, khát vọng mà mọi nhà tư bản, doanh nghiệp hướng tới đối với hoạt động kinh doanh của mình; Tuy nhiên chúng ta chỉ thường được biết đến bản chất của giá trị thặng dự mà không phải ai cũng có thể hiểu thế nào là giá trị thặng dư siêu ngạch. Vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là gì?

Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí qua điện thoại 24/7: 1900.6568

1. Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì?

Giá trị thặng dư siêu ngạch là thuật ngữ quen thuộc và phổ biến, thường xuyên được sử dụng trong hoạt động kinh doanh; Đây là một trong các quy luật kinh tế được chủ nghĩa Mác – Lênin phát triển trong nền tảng kiến thức về triết học của ông. Nếu chưa đi vào tìm hiểu, giá trị thặng dư siêu ngạch là một thuật ngữ mang tính trừu tượng; đặc biệt đối với những người mới tìm hiểu về lĩnh vực này. Cho nên ta có thể giải thích giá trị thặng dư siêu ngạch như sau:

Trong một xã hội mà có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản với nhau đòi hỏi các nhà tư bản phải tích cực phát triển và tìm kiếm phương pháp sản xuất tốt nhất, hiệu quả nhất để tăng năng suất lao động trong các nhà máy, xí nghiệp; đồng thời hướng đến giảm giá trị cá biệt của hàng hóa, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch.

Theo Triết học Mác – Lê Nin thì Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.

Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Đây là động lực để các nhà tư bản cải thiện kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hóa.

Hiểu theo cách dễ hiểu thì Giá trị thặng dư siêu ngạch tiếng Anh là Extra surplus value là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng khoa học công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của sản phẩm hàng hóa công ty này thấp hơn giá trị thị trường.

2. Đặc điểm giá trị thặng dư siêu ngạch:

Thứ nhất: Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh xuất hiện và cũng nhanh mất đi.

Giá trị thặng dư siêu ngạch được sinh ra từ các hoạt động tăng cường áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, nhà tư bản; Vậy tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng mang tính tạm thời nhanh xuất hiện và cũng nhanh biết mất. Bởi lẽ, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay với sự xuất hiện có nhiều tập đoàn, công ty lớn kinh doanh cùng một loại sản phẩm khiến cho thị phần trên thị trường bị thu hẹp, chia thành nhiều miếng nhỏ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích cực trong việc đổi mới phương thức sản xuất, áp dụng kỹ thuật – công nghệ mới vào hoạt động sản xuất nhằm tăng năng suất lao động tạo ra thật nhiều giá trị thặng dư siêu ngạch.

Tuy nhiên các đối thủ cạnh tranh cũng không đứng yên một chỗ một khi doanh nghiệp này áp dụng thành công những cải tiến về mặt kỹ thuật làm tăng năng suất lao động thì ngay lập tức các doanh nghiệp khác cũng sẽ áp dụng phương pháp đó hay phát triển nhiều phương thức sản xuất mới khiến cho giá trị thặng dư siêu ngạch của các doanh nghiệp khác bị mất đi và cứ tác động qua lại trong xu thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp giá trị thặng dư siêu ngạch nhanh chóng xuất hiện rồi cũng nhanh chóng mất đi.

Xem thêm: Giá trị thặng dư là gì? Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của giá trị thặng dư?

Thứ hai:Giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

Giá trị thặng dư tương đối – GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng việc nâng cao năng suất lao động trong hoạt động sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động không thay đổi, cường độ lao động vẫn như cũ.

3. Ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu ngạch:

Đầu tiên việc tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch một cách hợp lý và hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nhà tư bản, doanh nghiệp; Với việc áp dụng các kỹ thuật công nghệ mới vào hoạt động sản xuất doanh nghiệp sẽ tạo ra số lượng sản phẩm lớn với chất lượng tốt hơn qua đó tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường tiêu thụ, dành được nhiều thị phần trước các đối thủ cạnh tranh trực tiếp đến lợi nguồn lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp. Như vậy ý nghĩa đầu tiên mà giá trị thặng dư siêu ngạch đem lại lợi nhuận lớn.

Bên cạnh đó để nhằm tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch và nhằm đối trọng với đối thủ cạnh tranh đòi hỏi các nhà tư bản, doanh nghiệp phải tiến hành áp dụng kỹ thuật – công nghệ mới, hiện đại và tiến bộ vào sản xuất. Điều này giúp cho người lao động giảm bớt sức lao động và thời gian cần thiết để tạo ra một sản phẩm. Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề hai mặt khi mà áp dụng kỹ thuật – công nghệ vào sản xuất thì đông thời vai trò của người lao động sẽ bị giảm đi và người lao động phải học hỏi thêm các kỹ năng để vận hành kỹ thuật – công nghệ mới, những người không đáp ứng được các điều kiện thì sẽ bị đào thải, tăng tỷ lệ thất nghiệp.

4. Nguồn gốc giá trị thặng dư siêu ngạch:

Về bản chất, giá trị thặng dư siêu ngạch chính là mang lại thật nhiều lợi nhuận cho các nhà tư bản và doanh nghiệp; vì vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư siêu ngạch do:

Do sự cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp với nhau kinh doanh cùng một mặt hàng và trên cũng một thị trường tiêu thụ các doanh nghiệp muốn bán được nhiều hàng hóa thu được thật nhiều lợi nhuận trước các đối thủ cạnh tranh trực tiếp đòi hỏi các doanh nghiệp phải sản xuất được một số lượng hàng hóa lớn và chất lượng đạt chuẩn để có thể thu hút người tiêu dùng.

Để làm được điều đó các doanh nghiệp phải có những phương pháp mới và phù hợp; đặc biệt quan trọng hiện nay là việc áp dụng kỹ thuật – công nghệ vào sản xuất để hạn chế sức lao động và thời gian, chi phí bỏ ra để tạo ra sản phẩm đồng thời khi áp dụng kỹ thuật – công nghệ hiện đại, tiên tiễn sẽ giúp cải thiện chất lượng của sản phẩm. Khi đó số lượng hàng hóa sản xuất ra sẽ nhiều hơn và có chất lượng đạt chuẩn giúp mang lại nhiều lợi ích về giá trị thặng dư siêu ngạch qua hoạt động bán hàng hóa.

Căn bản của giá trị thặng dư chính là tạo ra sản phẩm có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội. Mà để giá trị cá biệt là giá trị riêng do 1 người tạo ra còn giá trị xã hội là giá trị do nhiều người cùng tạo ra, và để làm được điều đó thì đồng nghĩa bạn phải khiến cho 1 người lao động làm sao đó có thể tự tạo ra được 1 hàng hóa và đó chính là thông quá sự hỗ trợ của công nghệ mới.

Xem thêm: Thặng dư vốn cổ phần là gì? Cách tính thặng dư vốn cổ phần năm 2022?

5. Phân biệt giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:

Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản, doanh nghiệp thu được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của các nhà tư bản, doanh nghiệp đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê bằng việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện thời gian lao động của ngày lao động không đổi, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư, để tạo ra giá trị thặng dư tương đối thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Đối với giá trị thặng dư siêu ngạch là sự thể hiện áp dụng các phương pháp sản xuất mới hiện đại vào hoạt động sản xuất để sản xuất được nhiều sản phẩm và thu được nhiều lợi nhuận bên cạnh sức ép của thị trường và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mà còn trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản.

Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hoá.